Châu Phước Tiến
Theo lời kể của mẹ tôi, bà ngoại tôi sinh năm 1910 tại làng Bồ Mưng, một ngôi làng nghèo nằm nép mình bên cánh đồng lúa mênh mang. Mười chín tuổi, ngoại về làm dâu xóm Rừng – vùng đất mà người ta còn gọi là Bổn Thượng xứ.
Theo lời kể của mẹ tôi, bà ngoại tôi sinh năm 1910 tại làng Bồ Mưng, một ngôi làng nghèo nằm nép mình bên cánh đồng lúa mênh mang. Mười chín tuổi, ngoại về làm dâu xóm Rừng – vùng đất mà người ta còn gọi là Bổn Thượng xứ. Ông ngoại tôi tên T, người hiền lành, quanh năm chân lấm tay bùn.
![]() |
| Ảnh Minh Hoạ |
Cậu Hai tôi là ông Nguyễn Hữu Kinh, người con trưởng của ngoại, đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ ngày ấy, dân làng quen gọi ngoại bằng cái tên mộc mạc: bà Kinh. Cái tên gắn với ngoại suốt cuộc đời, giản dị mà thân thương như chính cuộc đời của ngoại vậy.
Tôi không biết ngoại học nghề làm bánh bèo từ bao giờ. Có lẽ từ thuở còn con gái, có lẽ từ những ngày đầu về làm dâu xóm Rừng. Chỉ biết rằng từ năm 1945 đến 1975, cả vùng Thanh Quýt, ai nhắc đến bánh bèo là nhớ ngay đến bánh bèo bà Kinh.
Tiếng là quán, nhưng thực ra chỉ là một gian nhà tranh vách đất, mái lợp lá dừa cũ kỹ. Trước hiên kê mấy chiếc bàn gỗ thấp, vài cái ghế tre đơn sơ. Thế thôi mà trở thành nơi lui tới quen thuộc của bao người.
Hình ảnh ngoại ngồi bên bếp lửa vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Đôi bàn tay gầy gò, chai sạn của ngoại thoăn thoắt múc bột, tráng bánh, rắc nhân. Ngoại làm mỗi ngày chừng hơn hai trăm chén bánh bèo có xoáy tròn trịa.
Bánh trắng tinh, mềm mịn, ở giữa là lớp nhân tôm thịt heo ba chỉ băm nhuyễn, trộn với hành hương khô, phi mỡ thơm lừng. Ngoại giã đậu phụng bằng cối đá, khử vàng rồi rắc lên mặt bánh. Cái mùi hành ngoại xào lan ra cả xóm nhỏ, thơm đến nỗi trẻ con đang chơi ngoài ngõ cũng phải nuốt nước bọt.
Đến bây giờ đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vẫn còn nhớ như in cái mùi thơm ấy. Nó không chỉ là mùi của món ăn, mà là mùi của tuổi thơ, của những buổi trưa nắng chang chang, của tiếng chày giã đậu phụng cộc cộc vang lên từ căn bếp nhỏ.
Những năm 1968–1970, quê tôi là vùng giáp ranh giữa Đà Nẵng và nông thôn, ban ngày địch kiểm soát, ban đêm là vùng căn cứ cách mạng. Chiến tranh bao trùm lên từng mái nhà, từng lối xóm. Vậy mà giữa khói lửa ấy, quán bánh bèo của ngoại vẫn đỏ lửa mỗi ngày. Lạ lùng thay, bánh bèo bà Kinh ngon đến nỗi lính Mỹ cũng tìm vào ăn.
Có những ngày, hai tiểu đội lính Mỹ kéo vào ngồi kín cả sân. Dân làng nhìn mà vừa sợ vừa lo. Có lần, xã đội trưởng Lê Tự Nhật Thống nhất định đánh mìn diệt địch ngay tại quán.
Ngoại tôi run run nắm tay ông mà van xin: “Đừng đánh, tui lạy mấy chú. Lính Mỹ chết tại nhà tui thì tội nghiệp cho con cháu lắm.”
Câu nói mộc mạc của người đàn bà quê đã làm trận đánh phải dừng lại. Ngoại không hiểu chuyện binh đao, chỉ hiểu một điều giản dị: nhà mình là nơi bán miếng ăn, không phải nơi gieo thêm máu đổ.
Giữa chiến tranh tàn khốc, ngoại vẫn giữ cho quán bánh bèo một góc bình yên hiếm hoi. Dân trong làng, từ người già đến trẻ nhỏ, ai cũng khen bánh bèo bà Kinh ngon có tiếng. Những người đi làm đồng về ghé ăn dăm ba chén, những bà mẹ gánh con nhỏ ngang qua cũng dừng lại nghỉ chân.
Quán bánh bèo nhỏ bé ấy trở thành một phần đời sống của xóm Rừng, như cây đa đầu làng, như con đường đất quanh co quen thuộc.
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, ngoại tôi đã già. Cuộc sống bớt cơ cực hơn, con cháu đông đúc sum vầy, ngoại không còn phải vất vả bán bánh bèo nữa. Bếp lửa ngày xưa nguội dần, cái mùi hành phi thơm lừng không còn lan khắp xóm.
Nhưng hương vị bánh bèo bà Kinh thì vẫn còn mãi trong lòng bao người.
Những người con của xóm Rừng đi xa, mỗi lần trở về đều nhắc đến ngoại tôi với một niềm nhớ thương tha thiết. Họ bảo: “Đi đâu ăn bánh bèo cũng không bằng bánh bèo bà Kinh ngày xưa.”
Ngoại tôi nay không còn nữa. Con đường làng ngày xưa rộng chừng hai mét, mùa mưa lầy lội, mùa nắng bụi bay, giờ đã thành con đường bê tông rộng chín mét thẳng tắp. Nhà tranh vách đất của ngoại đã được thay bằng những mái nhà khang trang. Xóm Rừng đổi thay từng ngày, nhộn nhịp và hiện đại hơn xưa.
Nhưng trong ký ức của tôi, mọi thứ vẫn nguyên vẹn như thuở nào. Vẫn là con đường làng rợp bóng tre, vẫn là gian bếp nhỏ có nồi nước sôi nghi ngút, bánh được hấp trong xửng tre, vẫn là dáng ngoại lom khom bên rổ bánh bèo nóng hổi.
Có những món ăn người ta ăn để no, nhưng cũng có những món ăn người ta nhớ để thương. Bánh bèo bà Kinh đối với tôi chính là như vậy.
Giữa bao đổi thay của thời cuộc, tôi thầm biết ơn ngoại – người phụ nữ quê mùa, lặng lẽ – đã để lại cho con cháu một di sản vô hình mà quý giá: hương vị của yêu thương và tình người.
Và ở đâu đó trong thẳm sâu ký ức, mùi bánh bèo bà Kinh vẫn còn thơm mãi, như ngọn lửa nhỏ sưởi ấm một đời tôi.
Gợi ý cho những ai muốn giữ lại hương vị bánh bèo xưa trong gian bếp nhỏ:
