KÝ ỨC LÒ RÈN
Châu Phước Tiến
Sau năm 1975, khi chiến tranh đã lùi xa nhưng cái đói, cái nghèo vẫn còn lẩn khuất trong từng nếp nhà, từng thửa ruộng, ông D cùng vợ con – tổng cộng bảy người – khăn gói từ nơi khác về làng Thanh Quýt lập nghiệp.
Ngày ấy, làng tôi vừa qua cơn binh lửa, ruộng đồng cần hồi sinh, con người cần lao động để bám đất mà sống.
Cha tôi nhìn xa. Ông nói:
“Muốn làm ruộng thì phải có cuốc, có liềm, có dao phát cỏ. Làng mình thiếu một ông thợ rèn.”
Vậy là cha đứng ra tạo điều kiện, cho ông D dựng tạm một căn nhà nhỏ trên phần đất nhà bà Trí, xóm Trên, để nhóm bếp lò, đặt đe, treo búa mà hành nghề.
Căn nhà chỉ vừa đủ che mưa nắng, bốn bề trống hoác, nhưng từ đó, lửa bắt đầu đỏ lên giữa làng.
Những năm đầu, cuộc sống của vợ chồng ông D vất vả trăm bề. Nghề rèn là nghề ăn cùng lửa, ngủ cùng tro. Mặt mũi lúc nào cũng đen thui, quần áo ám mùi khói than.
Nhưng ông bà hiền lành, ít nói, làm lụng cần mẫn, không than thân, không trách phận.
Năm 1978, ông dời lò sang ở tạm trên đất nhà ông Tìm để tiếp tục hành nghề. Lúc ấy tôi tròn mười tuổi, học tiểu học trường làng.
Mỗi sáng, tôi thường rủ thằng Trung đi học sớm để được ngang qua lò rèn. Không phải vì tò mò, mà vì bị cuốn hút bởi thứ âm thanh rất riêng.
Tiếng búa nện xuống sắt đỏ, vang “thình… thịch… thình… thịch…”, đều đặn như nhịp tim của làng quê.
Tôi đứng nép bên hàng rào tre, nhìn ông D trần lưng áo, tay cầm búa nặng, mồ hôi chảy thành dòng, lửa than bùng lên mỗi lần ông kéo phôi sắt ra khỏi lò.
Bà vợ ông lặng lẽ bên cạnh, khi thì thụt bễ, khi thì đưa nước, không lời qua tiếng lại. Cả hai người gắn với nhau bằng lao động, bằng nhẫn nại, bằng cái nghèo chấp nhận được.
Đến năm 1985, ông chuyển lò xuống gần Quốc lộ 1A, đoạn sát nhà thờ Tin Lành Thanh Quýt. Người qua kẻ lại nhiều hơn, nhưng ông D vẫn vậy: không mời chào, không phô trương.
Ai cần thì ghé, ai đặt thì ông làm, xong việc tính tiền vừa phải, không bớt xén, không nói thách.
Rồi tôi đi học xa. Những buổi sáng không còn rủ Trung đi học ngang lò rèn nữa. Tiếng búa vẫn vang, nhưng đã lùi vào miền ký ức.
Sau năm 1990, ông D lại dời lò về xóm Chay, trên phần đất vườn nhà ông xã Kỵ. Ở đó, ông gắn bó cho đến cuối đời.
Hơn ba mươi lăm năm, một đời người đổ mồ hôi bên bếp lửa, chỉ để rèn ra những nông cụ phục vụ ruộng đồng quê tôi.
Khi ông mất, con trai ông là anh Huỳnh Có Anh tiếp tục nối nghề cha. Ngọn lửa lò rèn không tắt ngay, vẫn đỏ thêm được một chặng.
Nhưng rồi thời thế đổi thay, máy móc nhiều lên, con cháu mỗi người một ngả. Nghề rèn – như bao nghề xưa – dần lùi lại phía sau.
Nhưng trong ký ức tôi, lò rèn ấy chưa bao giờ tắt.
Mỗi lần nhớ về tuổi thơ, tôi lại nghe rõ tiếng búa đập vang trong buổi sớm làng quê.
Tiếng búa ấy không chỉ nện vào sắt, mà nện vào trí nhớ, vào một thời lao động chân chất, nơi con người sống với nhau bằng uy tín và cần cù.
Ở Thanh Quýt, hễ ai hỏi “ông thợ rèn tên D” thì không cần chỉ dẫn nhiều. Ai cũng biết.
Người ta nhớ ông không phải vì giàu có, cũng chẳng vì chức tước, mà vì cái nết hiền, vì cách sống lặng lẽ, vì sự tử tế không cần phô bày.
Cha tôi rất quý ông, thường nói ông là người “không bon chen, chỉ cặm cụi làm nghèo mà nuôi con.”
Câu nói ấy nghe qua tưởng nhẹ, nhưng nghĩ kỹ thì nặng như đe sắt. Cả một đời người gói gọn trong mấy chữ.
Năm 2013, có lần tôi ăn Tết ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Đêm cuối năm, trong men rượu nhạt, một người quê Nam Định nói với tôi:
“Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp,
Quê nhà một góc rộng mênh mông.”
Câu nói ấy như chạm vào một góc sâu trong lòng. Tôi bỗng nhớ ông D. Nhớ lò rèn. Nhớ tiếng búa. Nhớ mùi khói than ám cả tuổi thơ.
Hơn ba mươi lăm năm hành nghề, ông để lại cho quê tôi không chỉ là cuốc liềm, mà là một danh tiếng âm thầm: làm nghề cho đàng hoàng, lấy tiền vừa phải, sống không làm phiền ai.
Giờ đây, đi ngang những nơi từng đặt lò rèn, chỉ còn khoảng đất trống, cỏ mọc lưa thưa.
Nhưng trong tôi, lò rèn ấy vẫn đỏ lửa. Ngọn lửa của ký ức, của lao động chân chính, của một thế hệ người quê sống chậm, sống thật, sống tử tế.
Có những con người, khi còn sống thì lặng lẽ như tro nguội. Nhưng khi nhớ lại, họ ấm lên trong lòng ta như than hồng.
Ông D – người thợ rèn của làng Thanh Quýt – là một người như thế.
Và với tôi, chỉ cần còn nhớ, thì lò rèn ấy chưa bao giờ tắt.
