– một đời người, một đời đất –
Quê tôi, làng Thanh Quýt, nằm nép mình bên những bãi bồi, nơi đất không giàu sang nhưng bền bỉ. Ở đó, nghề trồng thuốc lá đã có từ bao đời, truyền từ tay ông sang tay cha, từ lưng áo bạc mồ hôi của người trước sang dáng lưng còng của người sau.
Thuốc lá không chỉ là cây trồng. Nó là kế sinh nhai, là chỗ dựa, là nỗi lo và cũng là niềm hy vọng của biết bao gia đình trong làng.
Nhà chú tôi – ông Lê Tự Ái – là một trong những gia đình như thế. Cả cuộc đời chú gắn chặt với ruộng thuốc. Từ lúc còn trai tráng cho đến khi mái đầu điểm bạc, chú chưa từng rời khỏi những luống thuốc lá xanh non rồi úa vàng theo mùa.
Bao nhiêu năm, chú trồng thuốc để nuôi con ăn học, lo cơm áo, cưới gả, giỗ chạp, thuốc thang. Trăm thứ sinh hoạt trong gia đình, lớn nhỏ, đều trông cậy vào mấy sào thuốc ngoài đồng.
Thuốc lá nuôi người, nhưng cũng thử thách con người đến tận cùng sức lực.
Tôi lớn lên giữa những mùa thuốc như thế. Tuổi thơ tôi không có nhiều trò chơi xa xỉ. Ký ức rõ nhất là những buổi theo ba ra đồng từ tinh mơ. Trời còn bảng lảng sương, đất lạnh ngấm qua gan bàn chân, tôi theo ba tưới nước cho cây thuốc.
Công việc làm thuốc không hề nhẹ nhàng như nhiều người tưởng. Từ khâu đặt cây, nhổ giống, lên hàng, cơi ngọn, tỉa lá, bỏ chồi… mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và sức bền.
Những ngày nắng gắt, cả cánh đồng thuốc như bốc hơi. Người làm cúi lưng từ sáng đến chiều, mồ hôi thấm ướt lưng áo, tay chân rát bỏng vì phân bón và nước phèn.
Những ngày mưa dầm, đất nhão nhoẹt, thuốc dễ úng, dễ chết, lòng người cũng nặng trĩu theo từng đám mây đen kéo qua đầu.
Làm thuốc là làm với trời. Có năm được mùa, thuốc lên đều, lá dày, vàng óng. Cả nhà mừng rỡ, tiếng cười nhiều hơn tiếng thở dài.
Những bó thuốc treo kín giàn, mùi thuốc phơi quyện trong gió, vừa hăng vừa ấm.
Nhưng cũng có năm thời tiết không thuận, mưa trái mùa, nắng hạn kéo dài, sâu bệnh hoành hành. Thuốc chết hàng loạt, tiền giống, tiền phân, tiền công coi như mất trắng.
Có gia đình rơi vào cảnh phá sản, nợ nần chồng chất, nhìn ruộng thuốc mà nước mắt rơi không thành tiếng.
Chú Lê Tự Ái đã đi qua đủ đầy những năm như thế. Chú ít nói, nhưng lưng chú hiểu rõ từng cơn mưa, từng đợt gió. Chú hiểu đất, hiểu cây, và cũng hiểu rằng đời người làm nông không được quyền chọn nhàn.
Cái nhẫn nại của chú không phải lời nói lớn lao, mà nằm ở chỗ sáng nào cũng ra đồng đúng giờ, mùa nào cũng xuống giống đúng vụ, dù biết trước có thể thất bại.
Nhìn lại, tôi mới thấm thía: nghề trồng thuốc lá đã rèn cho người làng Thanh Quýt một đức tính âm thầm mà bền bỉ.
Không phô trương, không kêu ca. Được thì mừng vừa phải, mất thì cắn răng chịu, rồi lại làm lại từ đầu.
Chính từ những luống thuốc ấy, bao thế hệ con cháu được ăn học, được đi xa, được biết đến những chân trời khác.
Hôm nay, nghề trồng thuốc lá không còn giữ vị thế như xưa. Đất đổi công năng, người trẻ chọn nghề khác, nhiều ruộng thuốc đã bỏ hoang hoặc chuyển sang cây trồng mới.
Nhưng trong ký ức của tôi, thuốc lá làng Thanh Quýt vẫn còn đó – như mùi nắng cũ trên giàn phơi, như dáng lưng gầy của chú tôi giữa đồng chiều lộng gió.
Viết những dòng này, tôi không dám nói điều lớn lao. Chỉ xin cúi đầu trước một nghề đã nuôi sống bao phận người, và trước những con người lặng lẽ như chú Lê Tự Ái – cả đời cặm cụi với đất, để con cháu có ngày ngẩng đầu bước ra đời.


