Sáng mùng Một Tết Bính Ngọ 2026, đất trời Điện Bàn khoác lên mình chiếc áo mỏng manh của những hạt mưa xuân nhẹ hạt. Mưa không đủ ướt áo người đi, nhưng đủ để làm dịu đi cái nắng hanh, rơi nhẹ trên luống cỏ xanh rì, đọng lại trên những cánh mai vàng rực rỡ và những chậu cúc mâm xôi đang phô diễn sắc hương trước ngõ.
Tôi bước đi trên con đường dẫn vào Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Điện Bàn. Khi mưa tạnh dần, mặt sân và những dãy mộ đá hoa cương vẫn còn lấp lánh những dấu vết của làn nước ngọt ngào từ trời cao. Không gian tĩnh mịch, trang nghiêm. Đi sâu vào phía sau dãy mộ của các bậc lão thành cách mạng, nơi những tên tuổi lớn như cụ Nguyễn Xuân Nhĩ, cụ Lê Tự Thắng đang yên nghỉ, tôi dừng chân trước mộ phần của người anh, người chú, người bác kính yêu trong dòng tộc: Lão thành cách mạng Lê Tự Sang (bí danh Đào Phương).
Khói hương quyện trong gió xuân, đưa ký ức tôi ngược dòng thời gian về với cuộc đời thăng trầm nhưng đầy oanh liệt của ông.
1. Khởi đầu từ một sớm mưa xuân
Cụ Lê Tự Sang sinh năm 1928 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng – vùng đất vốn nổi danh là "địa linh nhân kiệt" của xứ Quảng. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng nhưng hoàn cảnh vô cùng ngặt nghèo, tuổi thơ của ông gắn liền với nỗi lo cơm áo. Thuở nhỏ, ông đã phải đi ở đợ, chăn trâu thuê cho các gia đình giàu có như nhà xã Hương, Thủ Dĩnh...
Cái đói, cái nghèo và sự áp bức đã hun đúc trong người thiếu niên họ Lê một ý chí sắt đá. Năm 1942, khi mới 14 tuổi, ông rời quê hương vào Cầu Đất (Đà Lạt). Tại đây, ông bén duyên với lý tưởng cách mạng, tham gia Hội Thanh niên cứu quốc xã Xuân Trường. Năm 1944, ông chính thức thoát ly, gia nhập Mặt trận Việt Minh tại Lâm Đồng, bắt đầu cuộc đời binh nghiệp đầy hiển hách.Sau Hiệp định Geneve năm 1954, đất nước chia cắt, ông thuộc diện cán bộ tập kết ra Bắc. Từ một Đại úy quân đội dạn dày sương gió, ông chuyển sang ngạch dân chính và được cử đi đào tạo tại lớp cán bộ cao cấp ở Thái Nguyên. Sau khóa học, ông được điều động về huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy. Ở cương vị nào, cốt cách của một người con xứ Quảng kiên trung cũng luôn tỏa sáng.
2. Từ cậu bé chăn trâu đến người chiến sĩ Việt Minh
Năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt nhất, miền Nam chịu nhiều tổn thất, cấp trên đã điều động ông trở về chiến trường xưa. Với bí danh Đào Phương, ông phụ trách công tác Tuyên giáo của Thành ủy Quảng Đà.
Ký ức về những đêm ông về nói chuyện thời sự cho cán bộ và nhân dân tại Thanh Trường, Thanh Trung vẫn còn in đậm trong tâm trí nhiều người. Những buổi họp tối trong căn nhà của ông xã Đủ (ông nội tôi) – nơi vốn là nhà cũ bỏ hoang vì ba tôi đã tá túc bên nhà ngoại – luôn tràn đầy niềm tin vào ngày thắng lợi. Dưới nền nhà ấy, ông đã bí mật đào một chiếc hầm trú ẩn, một bí mật mà mãi sau ngày giải phóng ông mới kể lại cho mẹ tôi nghe.
Đặc biệt, nhắc đến cụ Đào Phương là nhắc đến một "huyền thoại" thoát hiểm có một không hai năm 1967. Trong một trận càn quét ác liệt tại thôn Ô Gia Bắc, địch bao vây tứ phía. Để bảo toàn bí mật, ông giấu súng rồi nhảy xuống dòng sông Vu Gia ẩn náu. Tuy nhiên, ông vẫn bị quân địch dùng trực thăng phát hiện và bắt sống.
Khi chiếc máy bay vận chuyển ông về Đà Nẵng để tra khảo, lúc trực thăng hạ thấp độ cao khi băng qua triền sông Cẩm Lệ, bằng sự dũng cảm và khát khao tự do mãnh liệt, ông đã liều mình nhảy từ máy bay xuống sông giữa làn đạn kẻ thù. Cú nhảy sinh tử ấy đã đưa ông trở về với nhân dân, về với đơn vị để tiếp tục chiến đấu. Năm 1968, ông được chỉ định làm Tỉnh ủy viên Quảng Đà, giữ chức Trưởng ban Thương binh Quảng Đà đóng tại huyện Hiên (nay là Đông Giang – Tây Giang).
3. Trở về miền Nam và những huyền thoại bên dòng Vu Gia
Sau năm 1975, đất nước hòa bình, ông được bổ nhiệm làm Trưởng ty Lao động Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau khi sáp nhập các cơ quan, ông giữ chức Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, trực tiếp phụ trách công tác thương binh liệt sĩ.Năm 1980, khi chủ trương xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Điện Bàn được đưa ra, đã có nhiều ý kiến khác nhau. Thường vụ Huyện ủy lúc bấy giờ đề xuất đặt nghĩa trang tại vùng Gò Nổi hoặc Điện Nam. Tuy nhiên, với tầm nhìn chiến lược và tấm lòng đau đáu với đồng đội, ông Lê Tự Sang đã kiên quyết đề xuất xây dựng tại xã Điện Thắng, nằm ngay cạnh Quốc lộ 1A.
Lý lẽ của ông rất đỗi thuyết phục: Nghĩa trang đặt tại đây sẽ vô cùng hoành tráng, thuận tiện cho nhân dân cả nước mỗi khi đi ngang qua được vào thăm viếng. Hơn nữa, Điện Thắng là mảnh đất anh hùng, nơi có mẹ Thứ với nỗi đau mất 9 người con, nơi sinh ra người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Đặt nghĩa trang ở đây là đặt ngay tại trái tim của truyền thống cách mạng.
Ngày hôm nay, đứng giữa nghĩa trang khang trang, nhìn sang bên kia đường là Khu liên hợp công viên Mẹ Thứ uy nghiêm, nhà lưu niệm Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, lòng tôi bỗng trào dâng niềm tự hào khôn xiết. Tầm nhìn của người bác năm xưa giờ đây đã hiện hữu rạng rỡ. Vùng đất Điện Bàn Bắc nay đã thay da đổi thịt với những khu dân cư hiện đại như DHTC, An Dương, kết nối đồng bộ với đường 33 và các tuyến huyết mạch, tạo nên một điểm nhấn đô thị sầm uất, kết nối chặt chẽ với phía Nam thành phố Đà Nẵng.
Nén nhang cháy đến độ tàn, tôi nhìn lên di ảnh bác Đào Phương. Ông nằm đó, giữa lòng quê hương, giữa những người đồng đội mà ông đã dành cả đời để chăm lo phần mộ. Mùa xuân Bính Ngọ 2026 mang theo hơi thở của thời đại mới, nhưng những giá trị mà ông để lại – từ khí tiết người chiến sĩ đến tầm nhìn của một nhà lãnh đạo tâm huyết – sẽ mãi là ngọn đuốc sáng cho con cháu tộc Lê Tự nói riêng và người dân Điện Bàn nói chung noi theo.
